Tuesday, 27/10/2020 - 13:57|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Ngọc Thiện

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÁC DÒNG SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

Bắc Giang có 3 con sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Đây là 3 con sông đầu nguồn, tập trung đổ nước vào Phả Lại, nơi tiếp giáp giữa 3 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương. Sông Phả Lại chảy xuôi một đoạn, đến Gia Bình của Bắc Ninh thì nhận thêm nước của sông Đuống, chia nước từ sông Hồng chảy sang, sau đó chia làm hai nhánh đổ ra biển. Nhánh chảy qua Hải Dương sang Thái Bình là sông Thái Bình. Nhánh chảy qua Hải Dương rồi đổ ra Hải Phòng là sông Kinh Thầy.

     Tất cả các sông nói trên hợp thành một hệ thống, gọi là hệ thống sông Thái      Hệ thống sông Thái Bình cung cấp nước tưới và là cơ sở giao thông thuận lợi cho các tỉnh phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, hệ thống sông Thái Bình còn có vị trí quân sự rất quan trọng. Trong lịch sử, bọn giặc phong kiến phương Bắc thường lợi dụng hệ thống sông này để đánh vào Hà Nội và Bắc Giang được gọi là phên dậu phía Bắc của Kinh thành Thăng Long. Năm 938 quân Nam Hán định vào cửa Bạch Đằng theo sông Ngao (Quảng Ninh) sang sông Kinh Thầy lên Phả Lại, đã bị Ngô Quyền đánh tan ở cửa Bạch Đằng. Thế kỷ thứ XI, Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến trên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chống quân Tống.Thời kỳ nhà Trần, quân Nguyên – Mông đưa quân bộ vào Lạng Sơn, vượt ải Xa Lý sang Bắc Giang để tiến về Hà Nội và cánh quân thủy đi theo sông Lục Đầu lên để hợp với quân bộ ở Phả Lại. Nhà Trần chặn đánh địch ở ải Xa Lý, ải Nội Bàng (đều thuộc Lục Ngạn, Bắc Giang) sau đó rút lui theo sông Lục Nam về Phả Lại, đồng thời tổ chức đánh tan quân thủy nên chúng đành thất bại.

Ba dòng sông của Bắc Giang đều là những sông có chiều dài trên 100 km và có diện tích lưu vực, lượng nước vào loại trung bình so với 2.360 dòng sông lớn, nhỏ của nước ta.

     Sông Cầu dài 288 km, là dòng sông chính cung cấp 47% lượng nước cho hệ thống sông Thái Bình. Sông Cầu bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, chảy qua Bắc Cạn, Thái Nguyên cho tới Phả Lại. Sông Cầu tạo thành ranh giới phía tây nam và phía nam của tỉnh Bắc Giang với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội và Bắc Ninh. Lưu vực ở thượng lưu và trung lưu sông Cầu là phía đông cánh cung sông Gâm, phía tây cánh cung Ngân Sơn (đều thuộc Bắc Cạn) và một phần phía tây của cánh cung Bắc Sơn. Thượng nguồn sông Cầu dòng hẹp, có độ dốc lớn nên thường sinh ra lũ quét. Về đến hạ lưu, sông Cầu còn được nhận thêm nước từ hồ Núi Cốc, sông Công (Thái Nguyên) và sông Cà Lồ (Vĩnh Phúc) chảy vào. Hạ lưu sông Cầu từ Thái Nguyên tới Phả Lại, dòng sông rộng, địa hình hai bên sông thấp, bằng phẳng nên nước chảy hiền hòa. Dòng chảy sông Cầu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9, muộn thì tháng 10, mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau và cạn nhất là các tháng 1-2-3. Mùa cạn, nước sông Cầu trong xanh và chảy chậm nên mới có câu: “Sông Cầu nước chảy lơ thơ”.

Hạ lưu sông Cầu chảy giữa đồng bằng phì nhiêu của các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, nên từ thời Hùng Vương dựng nước,  bên đôi bờ sông Cầu đã có khá đông người Việt tụ cư sinh sống.

     Sông Thương dài 157 km, là phụ lưu lớn của sông Thái Bình. Sông Thương bắt nguồn từ Bản Thí (Lạng Sơn) chảy về Yên Thế qua Tân Yên, thành phố Bắc Giang, Yên Dũng rồi đổ nước vào Phả Lại. Cánh cung núi đá Bắc Sơn là đường phân thủy giữa sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) và sông Thương. Lưu vực sông Thương ở thượng nguồn gồm: nam cánh cung Bắc Sơn, tây dãy núi Bảo Đài (Bắc Giang) và đông của vùng núi đồi Yên Thế. Về đến hạ lưu, từ Bố Hạ (Yên Thế) tới Phả Lại, sông Thương nhận thêm nước từ đường phân thủy với sông Cầu ở phía nam và phân thủy với sông Lục Nam ở phía bắc đổ vào. Thượng lưu sông Thương bị các dãy núi cao che khuất nên lượng mưa ít hơn so với trong vùng. Nước sông Thương cũng có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm 80% lượng nước cả năm, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 3. Do độ dốc không lớn, lượng mưa trong vùng tương đối thuận hòa và có các hồ đập lớn ở thượng nguồn, như đập Cầu Sơn, đập Cấm Sơn nên lũ sông Thương không lớn và mùa cạn cũng không cạn lắm.

     Sông Lục Nam dài 175 km bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng Sơn) chảy qua 3 huyện Đông Bắc của tỉnh (Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam) rồi nhập vào sông Thương ở đoạn cuối. Lưu vực sông Lục Nam gồm phía đông dãy núi Bảo Đài và phía bắc dãy núi Yên Tử thuộc cánh cung Đông Triều. Thượng lưu sông Lục Nam từ nguồn tới Chũ (Lục Ngạn) dòng sông hẹp, độ dốc lớn, uốn khúc nhiều, kết hợp với lượng mưa vùng này lắm khi đột biến, nên hay sinh ra lũ lớn. Trung lưu sông Lục Nam do nhận thêm nguồn nước từ khu vực Mai Siu, từ núi Bảo Đài chảy về và địa hình bằng phẳng nên dòng sông rộng, sâu, không có ghềnh đá, tàu thuyền đi lại rất thuận lợi.

     Sông Lục Nam chảy giữa vùng rừng núi Đông Bắc của tỉnh, nhưng nó là đường giao thông quan trọng, nối liền đồng bằng Bắc Bộ với miền biên ải của tổ quốc, nên từ hàng ngàn năm trước đã có khá đông làng, bản của người Kinh, người dân tộc thiểu số định cư, sinh sống ở đôi bờ. Thời Lý, ba đời họ Thân ở Tòng Lệnh (Lục Nam) được làm rể vua Lý. Vua Lý cũng đã nhiều lần đi thuyền theo sông Lục Nam lên Chũ (Lục Ngạn) để đi kinh lý miền biên ải phía Bắc

Thực trạng các con sông trên

     Nước ta có tài nguyên nước thuộc loại trung bình trên thế giới, song ẩn chứa nhiều yếu tố kém bền vững. Xét lượng nước vào mùa khô thì nước ta thuộc vào vùng phải đối mặt với thiếu nước, một số khu vực thuộc loại khan hiếm nước. Chưa bao giờ tài nguyên nước lại trở nên quý hiếm như mấy năm gần đây khi nhu cầu nước không ngừng tăng lên mà nhiều dòng sông lại bị suy thoái, ô nhiễm, nước sạch ngày một khan hiếm. Hạn hán, thiếu nước diễn ra thường xuyên, nghiêm trọng. An ninh về nước cho phát triển bền vững và BVMT đang không được bảo đảm ở nhiều nơi, nhiều vùng ở nước ta, trong đó có tỉnh Bắc Giang:

     Hiện nay, hầu hết các làng nghề sản xuất không có các công trình xử lý nước thải; một số làng nghề là điểm nóng về ô nhiễm như: làng nghề giết mổ trâu bò xã Phúc Lâm, nấu rượu Vân Hà (Việt Yên) và bún Đa Mai (TP Bắc Giang). Nước thải sinh hoạt ở 9 huyện cũng chưa có hệ thống thu gom, xử lý. 

   Sông Cầu bị ô nhiễm kéo dài nhiều năm. Kết quả phân tích mẫu nước thải công nghiệp cho thấy chỉ tiêu các chất độc hại ở một số điểm vượt quy chuẩn; nước thải tại 5/14 làng nghề cũng có hàm lượng các chất này quá giới hạn 1,2-7,5 lần; nước thải sinh hoạt tại một số cống ở nhiều huyện cũng chung tình trạng.

     Đặc biệt nước bị ô nhiễm còn là nguyên nhân chủ yếu gây ra dịch bệnh đối với thủy sản và làm giảm năng suất cây trồng, thậm chí mất trắng. Đơn cử vào đầu năm, hơn 3 ha trồng cây kim tiền thảo tại cánh đồng Tiền Tô và Trại Sắt, xã Tiền Phong (Yên Dũng) chết do nguồn nước dẫn từ kênh Cống Bún bị ô nhiễm đã làm người dân thiệt hại hàng trăm triệu đồng, năng suất lúa tại khu vực này cũng giảm mạnh... 

Biện pháp giải quyết:

    UBND các huyện, thành phố cần nêu cao trách nhiệm trong công tác quản lý, kiểm tra và xử phạt các đơn vị xả thải không đúng quy định, tổ chức thu gom, vận chuyển xử lý rác và nước hợp vệ sinh; yêu cầu các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư kết cấu hạ tầng thu gom và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường. 

     Bố trí đủ nhân lực thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất, xử lý nghiêm gắn với hậu kiểm các doanh nghiệp, cá nhân vi phạm luật về môi trường, tránh tình trạng “đánh trống bỏ dùi” gây “nhờn” luật. Đẩy mạnh các hoạt động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải thông qua việc thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Trách nhiệm của học sinh:

- Không xả rác, đổ nước thải ra các con sông.
- Thường xuyên tổ chức các đợt vệ sinh gần bờ sông.
- Tuyên truyền cho mọi người để cùng nhau giữ vệ sinh các con sông.
- Phê phán các việc làm sai trái khi thấy có người làm những việc sai trái có nguy cơ gây ô nhiễm đến các con sông.

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 4
Hôm qua : 8
Tháng 10 : 117
Năm 2020 : 1.863